English | Vietnamese | Thai | Nepalese | Urdu | Hindi
Logo
cuhk logocu medi logonursing logo

This project is sponsored by the AIDS Trust Fund.

HIv và AIDS là gì?

Virut phá hoại hệ thống miễn dịch của người bệnh trong đó các tế bào máu (CD4) dần bị phá hủy. Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải còn được gọi là AIDS, là giai đoạn cuối cùng của quá trình lây nhiễm HIV. Sự tiến triển của AIDS được xác nhận là lượng tế bào máu CD4 giảm đến mức quan trọng và( hoặc ) người mắc bệnh về nhiễm trùng hoặc một số bệnh ung thư liên quan đến nhiễm trùng,phát triển mạnh mà thường không biểu hiện ở một cơ thể mạnh khỏe. Có hai chủng loại virut HIV:HIV1 và HIV2. HIV1 được phân phối trên toàn cầu còn HIV2 chủ yếu được tìm thấy ở các nước Châu Phi.

Căn bệnh HIV có thể phân chia thành 3 giai đoạn: nhiễm trùng cấp tính, độ trễ lâm sàng và cuối cùng là AIDS. Điều quan trọng cần được lưu ý rằng virut HIV có thể lây truyền ở tất cả các giai đoạn:

hiv

Nhiểm trùng cấp tính:
Nhiều người gặp một hoặc nhiều triệu chứng như cảm cúm trong vòng 2-4 tuần sau khi nhiễm HIV. Nó còn được gọi là hội chứng nhiễm HIV cấp tính. Một số lại không có triệu chứng trong giai đoạn này. Số lượng HIV sẽ nhanh chóng tăng lên trong cơ thể bạn, làm cho bạn có nguy cơ cao lây bệnh,một số lượng lớn các tế bào sống CD4 sẽ bị phá hủy. Khi bắt đầu điều trị ARV-điều được phê duyệt kháng với nhiễm HIV, ở giai đoạn này là hấp dẫn nhất.

Độ trễ lâm sàng:
Thời gian về độ trễ lâm sàng là virut tiền ẩn trong cơ thể nhưng vẫn hoạt động. Sự sinh sản của virut trong giai đoạn này là chậm nên người nhiễm có thể không có triệu chứng hoặc triệu chứng rất nhẹ. Độ trễ lâm sàng có thể kéo dài đến một vài thập kỷ ở những bệnh nhân được điều trị ARV hoặc kéo dài một thập kỷ ở những bệnh nhân không được điều trị. Bệnh vẫn có thể truyền nhiễm cho người khác mặc dù nguy cơ sẽ giảm đáng kể nếu được điều trị ARV.

AIDS( bệnh SIDA):
Bệnh được cho là đã tiến triển đến giai đoạn AIDS là khi mức độ tế bào sống CD4 giảm xuống mức cảnh báo( thấp hơn 200 tế bào sống ở mỗi mm khối máu) và tạo cho căn bệnh nào đó có cơ hội phát triển. Có nghĩa là hệ thống miễn dịch quá yếu để bảo vệ bạn. Không giống như phân loại trong đó xác định AIDS dựa vào một số tế bào sống CD4 thấp. Các văn phòng giám sát HIV ở Hồng Kong cũng đòi hỏi phải có sự hiện diện của một căn bệnh nào đó tạo cơ hội cho AIDS trong trường hợp định nghĩa(điều kiện chỉ định).

Sự truyền nhiễm của HIV

Virut HIV suy giảm miễn dịch của con người là một bệnh truyền nhiễm tán công vào hệ thống miễn dịch. Con đường lây nhiễm HIV là quan hệ tình dục không được bảo veejvaf chia sẻ ,dùng chung kim tiêm, kim chích và dụng cụ khác với người bị nhiễm HIV. Bệnh có nguy cơ nhiễm HIV nếu bạn không sử dụng bao cao su với đối tác có HIV trạng thái dương tính hay không rõ và dùng chung kim tiêm đã qua sử dụng với người sử dụng ma túy bị nhiễm bệnh.

Truyền nhiễm từ mẹ sang con là ít nguy cơ hơn vì hiện tại đã có xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai. Virut HIV có thể truyền từ mẹ sang trẻ sơ sinh trong quá trình mang thai, sinh nở và cho con bú. Nguy cơ lây truyền được giảm đi khi người phụ nữ bị nhiễm HIVcó thuốc trong quá trình mang thai. Ngoài ra HIV cũng có thể lây lan qua những con đường khác mặc dù hiện tại không còn phổ biến như:

hiv
  • Bị tổn thương bởi một kim tiêm có dính HIV hoặc một dụng cụ sắc( Đặc biệt là đối với nhân viên y tế)
  • Nhận truyền máu, các sản phẩm máu, ghép mô hoặc cơ quan nội tạng đang bị nhiễm virut HIV.

Một số chất dịch cơ thể máu, tinh dịch, nước nhờn, chất lỏng trực tràng, dịch âm đạo và sữa mẹ đã mang sẵn virut hiv có thể truyefn cho người khác .Lây nhiễm chỉ xảy ra khi các chất dịch cơ thể tiếp xúc với niêm mạc( Như miệng, trực tràng, vùng sinh dục, vân ...vân....)hoặc bị hư hỏng mô hoặc trực tiếp vào động mạch máu. Lây nhiễm HIV có thể xảy ra ngay cả khi người đó không vết xầy sước da và không có liên hệ trực tiếp với máu bị nhiễm khuẩn HIV.

HIV không lây truyền qua một số chất dịch cơ thể khác ,kể cả nước bọt, mổ hôi, nướt mắt, khuôn mặt, nước tiểu, chất nôn và nước mũi.

Dấu hiệu và triệu chứng

Nhiễm HIV ở giai đoạn đầu
(2 -4 tuần)

  • Triệu chứng giống cảm cúm: Sốt, đau cơ, phát ban, nhức đầu và đổ mồ hôi vào ban đêm, đau họng, sưng hạch to, đau khớp và nghẹt mũi.
  • Có thể không có triệu chứng trên.

Độ trễ lâm sàng
(2 tuần – 20 năm)

  • Liên tục xuất hiện các hạch to (không đau đớn)
  • Có thể không có những triệu chứng trên.

Cuối cùng của giai đoạn độ trễ lâm sàng là các virut nhiễm bệnh tăng dần và dẫn đến các triệu chứng nghiêm trọng hơn

  • Giảm cân mà không thể lý giải được
  • Nhiễm trùng đường hô hấp tái phát
  • Viêm nhiễm da và miệng như đau đớn,da ngứa ngáy, vẩy nến, lẻ loét tái phát và nấm miệng
  • Tiêu chảy mãn tính
  • Sốt dai dẳng, kéo dài
  • Bệnh lao phổi
  • Thiếu máu không rõ nguồn gốc

AIDS (Sida)

  • Hội chứng HIV suy giảm đặc trưng bởi giảm cân nặng, tiêu chảy mãn tính và sốt mà không thể khắc phục bởi các chất dinh dưỡng
  • Khó khăn trong việc nuốt thức ăn và các chất lỏng
  • Lao ngoài phổi
  • Viêm phổi tái phát
  • Viêm mãn tính hoặc lở loét (mụn rộp) trong miệng, môi và bộ phận sinh dục
  • Bám vá lỗi phẳng các tổn thương da thường phát triển thành mảng bám và nốt
  • Rối loạn hệ thần kinh tiến bộ
  • Và còn nhiều hơn nữa


Copyright Statement | Disclaimer | Privacy Policy | Useful Links

Copyright© 2019 The Nethersole School Of Nursing The Chinese University of Hong Kong. All rights reserved.